Lê Hồng Mận, Nguyễn Thanh Sơn I. Nguồn gốc và phân loại gà nhà
1. Nguồn gốc:
Để có bằng chứng chính xác về tổ tiên sống hoang dã của gia cầm, các nhà khoa học đã nghiên cứu những dạng động vật hoang hiện nay còn đang sống có quan hệ họ hàng với chúng.
Hầu hết các nhà nghiên cứu về gia cầm của thế giới đều cho rằng gà hoang miền Bắc ấn Độ hay gà Banquiva (Galius gallus murghi) một trong bốn loại hình của gà rừng là được thuần hoá đầu tiên.
Quê hương của gà rừng Bắc ấn Độ phân bố từ thượng nguồn sông ấn tới miền Nam Gođovani, từ Đông đến Đông Nam dãy núi Hymalaya. Gà Banquiva thường đẻ 10- 12 trứng trong tổ bằng cỏ khô và lá cây. Sau 20-21 ngày ấp thì trứng nở. Lúc trưởng thành khối lượng cơ thể gà mái đạt 700 gam, gà trống đạt 1000- 1100 gam. Gà trống có bộ lông sặc sỡ nhiều màu: Lông cổ có màu vàng da cam đến vàng, lông thân màu đỏ nâu và lông cánh ánh đen, lông bụng pha lẫn màu đen. Gà mái có bộ lông từ vàng nhạt, vàng trắng, đến hoa mơ. Màu sắc mỏ, chân cũng không đồng nhất: vàng đậm, vàng nhạt và đen.
Sự thuần hoá đầu tiên của gà nhà vào thời kỳ đồ đồng. Vị trí của gà nhà trong hệ thống động vật được sắp xếp theo sự phát sinh và nguồn gốc của chúng.
2. Sơ đồ phân loại gà nhà
Giới động vật
Giới phụ hậu sinh động vật (nhiều tế bào)
Ngành có dây sống (Chosdata)
Ngành phụ có xương sống (Vetebrata)
Lớp chim (Aaves)
Bộ gà (Galliformes)
Họ trĩ (Fasianidea)
Giống gà Banquiva (Gallus gallus murghi)
Loại gà nuôi (Gallus gallus domestica)
Nòi gà Ri, Đông Tảo...
Từ các di chỉ khai quật được ở các nước châu á có thể kết luận rằng, cái nôi của sự thuần hoá gà nuôi là châu á. Bước tiến quan trọng trong công tác giống gà bắt đầu sau khi nhập các giống gà địa phương của châu á sang châu âu vào thế kỷ 18 và 19. Từ các giống gà này tai nước Anh, sau đó là nước Mỹ người ta đã lai tạo ra nhiều giống gà để nuôi có năng suất cao hơn.
ở nước ta, nghề nuôi gà đã có từ lâu đởi với giống gà Ri, gà ta vàng rất phổ biến ở nhiều vùng trong cả nước. Nhiều tác giả đã có ý kiến cho rằng chính tổ tiên ta đã thuần dưỡng gà ngay trên mảnh đất của mình từ giống gà rừng. Theo tác giả Lê Văn Tiêm, Nguyễn Duy Tì, việc nuôi gà ở nước ta đã có vào giai đoạn Phùng Nguyên cách đây 3500 năm (căn cứ vào tượng gà bằng đất nung ở xóm Rền, Đồng Đậu - Vĩnh Phúc). Theo tác giả Nguyễn Đức Tâm thì nghề nuôi gà ở nước ta muộn hơn, cách đây khoảng 3328 + 100 năm. Đến giai đoạn Đông Sơn (2800 -100 năm) đã có tượng gà bằng đồng khá phổ biến. Trong khi đó theo tác giả Đào Văn Tiến (1971) thì gà được nuôi cách đây 3000 năm. Theo các tài liệu nghiên cứu về khảo cổ và di chỉ tìm được cho thấy vùng nuôi gà sớm nhất ở nước ta nằm giữa 2 dãy núi Ba Vì và Tam Đảo. Gà nuôi lúc bấy giờ có tầm vóc còn bé, khả năng sinh sản thấp và đó chính là tổ tiên của giống gà Ri hiện nay. Trải qua một thời kỳ dài làm nông nghiệp, tuỳ theo sở thích, điều kiện khí hậu, đất đai, trình độ canh tác, tập quán v.v... tổ tiên ta đã tạo nên những giống gà khác nhau mà đến nay vẫn còn tồn tại và phát triển .đó là gà Ri, gà Ri pha, gà Mía, gà Đông Tảo, gà Hồ, gà Tre, gà Mèo (gà H'mông), gà ác v.v... Song trong các giống kể trên gà Ri vẫn là giống được nuôi phổ biến nhất ở mọi miền quê Việt Nam.
II. Đặc điểm ngoại hình và tính năng sản xuất của gà Ri
1. Đặc điểm ngoại hình
Gà Ri là giống gà nội được nuôi rộng rãi trong cả nước nhất là các tỉnh phía Bắc. ở các tỉnh phía Nam có tên gọi là gà ta vàng. Tuỳ theo sự chọn lọc trong quá trình chăn nuôi mà giống gà Ri có nhiều loại hình tương đối khác nhau ở mỗi địa phương. Tuy vậy, những nét đặc trưng nhất của gà Ri là tầm vóc nhỏ, chân thấp. Gà mái có bộ lông vàng nhạt, hoặc vàng nâu có điểm lông đen ở cổ, lưng. Gà trống có bộ lông sặc sỡ nhiều màu hơn. Lông cổ đỏ tía hoặc da cam, lông cánh ánh đen. ở cả con trống và con mái có mào đơn nhiều khía răng cưa, màu đỏ tươi. Chân, da, mỏ có màu vàng nhạt. Gà Ri mọc lông sớm, chỉ hơn 1 tháng tuổi đã mọc đủ lông.
2. Tính năng sản xuất
Gà Ri có tuổi đẻ quả trứng đầu tiên sớm khoảng 135-140 ngày. Sản lượng trứng một năm đạt từ 80-120 quả/mái. Trứng có khối lượng bé 42-45 gam, vỏ trứng màu nâu nhạt; tỷ lệ trứng có phôi 89-90%, tỷ lệ ấp nở 80-85%. Lúc mới nở gà Ri đạt 25-28 gam; lúc bắt đầu đẻ, khối lượng gà mái khoảng 1200- 1300 gam; lúc trưởng thành đạt 1700- 1800 gam, gà trống 2200-2300 gam. Chất lượng thịt gà Ri thơm ngon và đậm đà. Gà Ri có ưu điểm nổi bật là cần cù, chịu khó kiếm ăn, sức chống chịu với thời tiết và bệnh tật cao, gà ấp và nuôi con khéo.
Tuy khối lượng trứng gà Ri bé, nhưng tỷ lệ lòng đỏ lại cao hơn trứng gà công nghiệp. Tỷ lệ lòng đỏ của trứng gà Ri là 34%, trong khi ở các giống khác chỉ chiếm 27-30%. Màu sắc lòng đỏ của trứng gà Ri cũng đậm hơn xem bảng 1).
Bảng 1. Thành phần cấu tạo cảu trứng gà
|
Các chỉ tiêu |
Giống gà |
|
|
Ri |
Rhode Island |
Goldline |
Tam Hoàng |
|
Khối lượng trứng (g) |
45,41 |
53,45 |
57,00 |
50,18 |
|
Khối lượng lòng đỏ (g) |
15,48 |
15,22 |
14,81 |
15,20 |
|
Tỷ lệ lòng đỏ (%) |
34,09 |
28,47 |
26,10 |
30,29 |
|
Khối lượng lòng trắng (g) |
26,06 |
30,02 |
36,36 |
29,05 |
|
Tỷ lệ lòng trắng (g) |
57,39 |
56,16 |
63,79 |
57,89 |
|
Đơn vị Haugh |
95,14 |
87,86 |
85,69 |
86,58 |
|
Chỉ số lòng đỏ |
0,45 |
0,44 |
0,44 |
0,44 |
|
Chỉ số lòng trắng |
0,096 |
0,090 |
0,087 |
0,09 |
Có thể nói rằng, trong các giống gà nội, gà Ri có sức đẻ trứng tốt nhất, gà không những đẻ trứng sớm mà thời gian đẻ kéo dài. Gà Ri không thay lông ồ ạt như các giống gà công nghiệp nên tỷ lệ đẻ đều qua các tháng. Tỷ lệ đẻ trung bình trong năm là 36-37%, tuần đẻ cao nhất 20-22%.
Một ưu điểm nữa của gà Ri so với các giống gà lông màu nhập nội là có thể khai thác gà mái ở năm đẻ thứ hai thậm chí năm đẻ thứ ba. Với khẩu phần thức ăn nghèo dinh dưỡng (13 -14% đạm) cũng vẫn nuôi được gà Ri đẻ trứng. Với những ưu điểm nêu trên, bao đời nay gà Ri là giống vật nuôi phổ biến trong các gia đình nông thôn nước ta.
Bảng 2: Một số chỉ tiêu năng suất của gà Ri nuôi đẻ trứng trong giai đoạn hậu bị
|
TT |
Tiêu tốn TĂ (g/con/ngày) |
Tỷ lệ nuôi sống (%) |
Khối lượng cơ thể qua các tuần tuổi (g) |
|
|
Đời I |
Đời II |
Đời I |
Đời II |
Đời I (mái) |
Đời I (trống) |
Đời I (mái) |
Đời I (trống) |
|
SS |
|
|
|
|
29,8±0,63 |
|
29.5±0.3 |
|
|
1 |
5,7 |
8,6 |
96,4 |
97,3 |
46,1±0,76 |
|
47.0±1.1 |
|
|
2 |
11,5 |
12,0 |
97,3 |
98,6 |
85,0±1,90 |
|
93.6±1.9 |
|
|
3 |
17,6 |
18,3 |
99,4 |
99,5 |
126,8±2,80 |
|
136.4±3.2 |
|
|
4 |
20,0 |
22,5 |
98,9 |
98,6 |
187,6±5,80 |
|
217.-±5.4 |
|
|
5 |
30,0 |
30,5 |
99,7 |
99,4 |
263,5±6,14 |
|
254.5±7.4 |
|
|
6 |
41,0 |
38,4 |
100 |
98,5 |
359,2±9,76 |
|
329.0±10.3 |
|
|
7 |
48,0 |
49,0 |
99,0 |
100 |
428,0±15,8 |
|
430.0±12.8 |
|
|
8 |
58,0 |
50,0 |
100 |
100 |
512,0±16,5 |
665.0±25.5 |
520.0±10.1 |
675.4±26.1 |
|
9 |
59,0 |
55,0 |
98,5 |
99,5 |
601,0±19,3 |
783.0±38.1 |
605.2±12.2 |
790.2±29.5 |
|
10 |
58,6 |
55,5 |
97,0 |
98,9 |
609,0±27,2 |
929.0±27.5 |
611.0±19.3 |
927.5±24.9 |
|
11 |
55,8 |
58,5 |
100 |
98,9 |
771,0±28,6 |
1062.0±50.1 |
769.5±14.0 |
1040.6±27.4 |
|
12 |
55,8 |
58,5 |
100 |
100 |
798,0±28,9 |
1127.0±61.4 |
792.0±23.3 |
1130.8±20.5 |
|
13 |
57,1 |
55,6 |
100 |
100 |
826,0±28,6 |
1254.0±58.9 |
840.0±24.5 |
1758.5±34.5 |
|
14 |
67,1 |
56,7 |
99,3 |
100 |
942,0±28,9 |
1366.0±49.0 |
946.6±23.7 |
1359.8±48.1 |
|
15 |
58,0 |
57,8 |
100 |
100 |
1060,0±25,2 |
1477.0±39.3 |
1064.7±24.3 |
1450.3±45.2 |
|
16 |
56,0 |
61,4 |
100 |
99,4 |
1085,0±24,4 |
1550.0±76.2 |
1090.5±18.9 |
1545.0±38.1 |
|
17 |
62,7 |
62,5 |
100 |
99,2 |
1185,7±50,6 |
1610.0±68.3 |
1168.3±19.6 |
1630.3±62.4 |
|
18 |
67,8 |
65,6 |
100 |
100 |
1186,0±38,5 |
1640.0±68.3 |
1180.5±22.8 |
1660.0±38.7 |
|
19 |
76,8 |
69,5 |
100 |
99,0 |
1214,0±47,1 |
1700.0±70.3 |
1216.2±21.9 |
1720.0±52.6 |
|
|
5,11kg |
4,94kg |
84,5 |
85,6 |
|
|
|
|
Ghi chú: khối lượng từ 1-7 tuần được tính chung trống và mái
Bảng 3: Một số chỉ tiêu năng suất của gà Ri nuôi đẻ trứng
|
|
Tỷ lệ đẻ |
Sản lượng trứng quả/mái (cộng dồn) |
Chi phí TĂ/10 quả trứng (kg) |
TĂ hàng ngày (g/gà/ngày) |
|
TT |
Đời I |
Đời II |
Đời I |
Đời II |
Đời I |
Đời II |
Đời I |
Đời II |
|
20 |
2,0 |
7,5 |
- |
- |
- |
- |
77.0 |
78.0 |
|
22 |
20,9 |
20,6 |
2,21 |
1,25 |
4,07 |
3,94 |
84,5 |
80,5 |
|
24 |
5,7 |
53,2 |
8,8 |
8,9 |
1,68 |
1,70 |
95,2 |
90,5 |
|
26 |
64,0 |
60,1 |
17,9 |
17,43 |
1,48 |
1,66 |
95,7 |
100,0 |
|
28 |
46,6 |
45,9 |
24,8 |
24,2 |
2,12 |
2,18 |
100,0 |
100,0 |
|
30 |
50,1 |
50,6 |
32,0 |
31,4 |
2,00 |
1,98 |
100,0 |
100,0 |
|
32 |
48,0 |
41,1 |
38,9 |
37,8 |
2,05 |
2,16 |
100,0 |
95,5 |
|
34 |
39,0 |
40,2 |
44,3 |
43,5 |
2,46 |
2,24 |
95,0 |
90,0 |
|
36 |
40,5 |
42,0 |
50,7 |
49,5 |
2,37 |
2,15 |
95,0 |
90,0 |
|
38 |
47,5 |
48,5 |
56,7 |
55,6 |
2,12 |
2,06 |
100,0 |
100,0 |
|
40 |
39,4 |
39,7 |
62,7 |
61,5 |
2,50 |
2,34 |
100,0 |
93,0 |
|
42 |
26,3 |
30,6 |
67,1 |
66,5 |
3,50 |
2,89 |
90,0 |
88,5 |
|
44 |
50,8 |
45,8 |
72,5 |
71,8 |
1,94 |
2,05 |
100,0 |
94,0 |
|
46 |
45,0 |
43,1 |
78,5 |
78,3 |
2,22 |
2,13 |
100,0 |
92,0 |
|
48 |
37,5 |
39,3 |
84,1 |
83,4 |
2,67 |
2,43 |
100,0 |
95,5 |
|
50 |
33,0 |
32,7 |
88,7 |
88,3 |
2,93 |
2,47 |
97,0 |
80,5 |
|
52 |
35,9 |
30,9 |
93,9 |
92,6 |
2,67 |
2,64 |
97,3 |
80,7 |
|
54 |
32,5 |
34,3 |
98,3 |
97,4 |
2,72 |
2,40 |
88,5 |
82,6 |
|
56 |
33,7 |
37,4 |
102,9 |
102,4 |
2,73 |
2,16 |
93,6 |
81,0 |
|
58 |
27,4 |
33,4 |
107,7 |
107,1 |
3,05 |
2,48 |
82,9 |
83,0 |
|
60 |
29,7 |
25,3 |
111,9 |
110,7 |
3,07 |
3,55 |
91,6 |
90,0 |
|
62 |
25,0 |
25,4 |
115,4 |
114,4 |
3,65 |
3,62 |
91,4 |
92,0 |
|
64 |
20,0 |
26,1 |
118,6 |
118,0 |
4,32 |
3,64 |
87,1 |
87,2 |
|
66 |
20,4 |
25,7 |
121,5 |
121,78 |
3,63 |
3,39 |
74,3 |
87,2 |
|
67 |
14,3 |
25,0 |
122,49 |
123,5 |
3,86 |
3,20 |
82,9 |
80,2 |
|
TB |
36,34% |
36,49% |
122,49 |
123,53 |
2,70 |
2,65 |
|
|
Bảng 4: Các chỉ tiêu năng suất của gà Ri nuôi lấy thịt
|
|
Tỷ lệ nuôi sống |
Tiêu tốn thức ăn (g/gà/ngày) |
Khối lượng qua các tuần tuổi (g) |
|
TT |
Đời I |
Đời II |
Đời I |
Đời II |
Đời I (trống) |
Đời I (mái) |
Đời II (trống) |
Đời II (mái) |
|
1 |
98,0 |
98,3 |
5,2 |
4,9 |
53,5±1,5 |
|
55,8±1,6 |
|
|
2 |
100,0 |
100,0 |
11,5 |
11,3 |
108,3±2,5 |
|
110,2±2,6 |
|
|
3 |
100,0 |
100,0 |
18,6 |
17,8 |
170,2±5,8 |
|
168,6±6,1 |
|
|
4 |
100,0 |
100,0 |
29,4 |
28,9 |
239,8±7,3 |
|
240,5±6,9 |
|
|
5 |
100,0 |
99,8 |
31,8 |
30,5 |
313,2±13,0 |
|
320,7±11,4 |
|
|
6 |
98,9 |
98,8 |
30,2 |
32,2 |
380,2±14,2 |
|
390,3±12,8 |
|
|
7 |
100,0 |
99,5 |
51,5 |
50,5 |
542,0±19,2 |
398,6±21,0 |
549,3±20,2 |
410,2±13,6 |
|
8 |
100,0 |
99,6 |
51,5 |
50,5 |
604,2±19,4 |
515,4±21,0 |
615,3±19,6 |
525,5±20,8 |
|
9 |
98,9 |
100,0 |
52,9 |
53,0 |
712,5±20,2 |
612,1±20,5 |
720,1±2,8 |
627,3±19,9 |
|
10 |
100,0 |
98,9 |
65,3 |
63,0 |
852,3±23,5 |
629,9±26,0 |
860,4±21,8 |
699,9±27,1 |
|
11 |
98,9 |
100,0 |
72,2 |
71,2 |
973,3±25,9 |
798,1±32,0 |
983,7±28,2 |
800,5±29,8 |
|
12 |
100,0 |
98,8 |
72,2 |
72,0 |
1073,3±23,4 |
922,2±30,0 |
1093,5±21,1 |
942,6±30,2 |
|
TB |
95,0 |
95,8 |
|
|
|
|
|
|
Ngoài những đặc điểm ngoại hình và tính năng sản xuất của gà Ri được nêu trên, hiện nay tại rất nhiều địa phương gà Ri đã bị pha tạp nhiều do lai với một số giống gà địa phương khác (gà Mía, gà Đông Tảo . . . ) hoặc lai với một số giống gà lông màu nhập nội (gà Tam Hoàng, gà Lương Phượng, gà Kabir. . .) tạo nên các con lai khác nhau và được người dân gọi tên chung là gà Ri pha. Do sự lai tạo không có định hướng và không có sự chọn lọc nên ngoại hình của gà Ri pha cũng rất đa dạng, năng suất thịt cũng khác nhau khá xa so với gà Ri thuần. Song, nhìn chung gà Ri pha có thể hình to hơn và năng suất thịt cao hơn gà Ri thuần. |