 |
 |
Online |
64 |
|
 |
Truy cập |
6645047 |
|
 |
|
| Tin tức Online |
|
|
Chi tiết về các link |
 |
|
|
 |
20/05/2013 |
 |
|
|
| | Lợn rừng, một loài vật hoang dã với quần thể khá lớn và phân bố rộng khắp lãnh thổ Âu – Á (Euasia) đã từ lâu đã bị loài người khai thác làm thực phẩm, sản xuất các vật dụng và săn bắn du lịch... Việc săn bắn sôi động nhất đã từng xẩy ra ở châu Âu và khiến loài này tuyệt chủng như ở Anh. Bên cạnh các lợi ích, lợn rừng cũng là mối đe dọa đối với đời sống con người, như phá hoại mùa màng ở Pháp, Trung quốc và tấn công người ở Berlin... | | |  | | | Chăn nuôi trâu bò là ngành kinh tế quan trọng trong cơ cấu nông nghiệp nước ta và mang lại nhiều lợi ích thiết thực cho người nông dân. Để tăng nhanh sản lượng và chất lượng đàn bò nhà nước đã có những chương trình khuyến nông, xoá đói giảm nghèo, cho vay vốn và tập huấn kỹ thuật cho các hộ nuôi bò. Chính do việc phát triển của đàn gia súc ngày càng nhanh mà nguồn thức ăn ngày càng kham hiếm và mất cân đối. Qua các điều tra cho thấy có sự mất cân đối giữa cung và cầu thức ăn thô xanh, đặc biệt là cỏ xanh trong mùa khô và mùa nước ngập. Khả năng cung cấp cỏ xanh từ những thảm cỏ tự nhiên là không ổn định. Bên cạnh đó điều kiện tự nhiên ở một số tỉnh thuộc Đồng Bằng Sông Cửu Long hàng năm vào khoảng tháng 8 đến tháng 11 dương lịch thì nước lũ tràn về làm cho nguồn thức ăn trong chăn nuôi trở nên khan hiếm. | | |  | | | Ở nước ta nghề nuôi thỏ tuy đã có từ lâu đời nhưng vẫn chưa được tổ chức thành một hệ thống rộng khắp để đáp ứng nhu cầu thịt của người dân, trong khi yêu cầu về số lượng, chất lượng và sự an toàn thực phẩm ngày càng gia tăng. Thịt thỏ ngon và có đạm cao, ít béo rất tốt cho sức khỏe người tiêu thụ (Đinh Văn Bình và Nguyễn Quang Sức, 1999), nên trong những năm gần đây chăn nuôi thỏ đã được các ngành chức năng và người dân quan tâm đầu tư phát triển. | | |  | | | Những năm gần đây, tình hình dịch bệnh trên đàn gia súc, gia cầm diễn biến phức tạp, ngành chăn nuôi gặp rất nhiều khó khăn. Nhiều hộ gia đình bỏ trống chuồng trại, khiến số lượng đàn gia cầm giảm sút. Do đó, đầu tư nuôi thỏ thực sự là một nghề mới, có thể tận dụng những phụ phẩm trong nông nghiệp làm thức ăn, góp phần giải quyết việc làm, tăng thu nhập và nâng cao đời sống của người dân. Nguồn thức ăn xanh cho thỏ nuôi ở hộ gia đình chủ yếu từ cỏ thiên nhiên, Rau Muống là một nguồn tài nguyên thức ăn có giá trị cho thỏ theo nghiên cứu của Hongthong Phimmmasan và cs (2004). Bên cạnh đó những báo cáo từ Olabanji và cs (2007), cho thấy có thể sử dụng nguồn Dã quỳ làm thức ăn bổ sung cho thỏ. Các kết quả này cho thấy việc dùng Dã quỳ chăn nuôi gia súc có thể làm giảm được chi phí thức ăn nhưng vẫn cho kết quả tăng khối lượng tốt, song những nghiên cứu từ cây Dã quỳ vẫn còn rất hạn chế ở nước ta. Vì vậy chúng tôi tiến hành nghiên cứu “Sử dụng nguồn thức ăn từ Dã qùy (Tithonia diversifolia), rau Muống (Ipomoea aquatica) để nuôi thỏ thịt lai”. | | |  | | | Thị trường thịt lợn thế giới trong hơn 20 năm qua cho thấy giá trị của lợn thương phẩm trên thị trường tăng đồng thời với tăng tỉ lệ nạc. Giá trị lợn thịt bán ra được dựa theo tỉ lệ thịt nạc và có giá trị tăng cùng với kết quả tạo giống theo hướng tăng tỉ lệ nạc. Nhờ đó, tỉ lệ lợn thịt bán ở dạng thịt mảnh tăng dần từ 28% năm 1988 lên 83% năm 2002 (Brorsen và cs., 1988, Grimes và Plain, 2005). Tuy nhiên, khi các nhà tạo giống cho ra các giống lợn có tỉ lệ nạc cao thì người tiêu dùng cũng chứng kiến sự giảm dần chất lượng thịt lợn. Các đặc điểm chất lượng thịt lợn có ý nghĩa đối với sự chấp nhận của người tiêu dùng như độ rắn, màu sắc, pH cũng như mỡ rắt bị giảm dần cùng với việc tăng nhanh cường độ tăng tỉ lệ nạc của các nhà tạo giống lợn (Barton-Gade 1990; Cameron 1990). Để cải thiện chất lượng thịt mà vẫn giữ được năng suất của các giống lợn đã tạo ra, các nghiên cứu trên thế giới tập trung vào nhiều biện pháp trong đó có kiểu chuồng và dạng thức ăn. | | |  | | | Theo số liệu của Tổng cục Thống kê năm 2007, tổng giá trị sản xuất ngành chăn nuôi ở nước ta là 29.201,0 tỷ đồng; cả nước có 16.757 trang trại chăn nuôi với tổng số lượng trâu là 2.996.400 con (tăng 2,6% so với năm 2006); bò có 6.724.700 nghìn con (tăng 3,3% so với năm 2006); ngựa có 103.500 con; dê cừu có 1.777.600 con. Ngoài ra, số lượng các loài vật nuôi ăn cỏ khác như hươu, nai, nhím, thỏ cũng tăng lên nhanh chóng. Tuy nhiên lượng cỏ, cây thức ăn chăn nuôi trồng mới chỉ đáp ứng được 6,32% nhu cầu thức ăn thô xanh của tổng đàn gia súc lớn. Nếu tính cả nguồn phụ phẩm nông nghiệp tận dụng được thì tổng lượng thức ăn thô xanh mới chỉ đáp ứng được 53,47% tổng nhu cầu thức ăn thô xanh của đàn gia súc ăn cỏ. Có thể nói, thiếu thức ăn thô xanh cho chăn nuôi, đặc biệt là chăn nuôi gia súc nhai lại đang là một hiện trạng bức xúc và là một trong những nguyên nhân làm cho chăn nuôi chưa phát triển tương ứng với tiềm năng của ngành. | | |  | | | Cơ cấu đàn bò thịt của nước ta hiện nay vẫn chủ yếu là bò địa phương và bò lai Sind. Trong tổng đàn bò 6,5 triệu con của cả nước, bò địa phương vẫn chiếm tới 74% và bò lai Sind khoảng 26% (Cục Chăn nuôi, 2006). Chiến lược phát triển chăn nuôi đến năm 2020 được Thủ tướng chính phủ phê duyệt đưa mục tiêu phát triển đàn bò thịt lên 12,5 triệu con, trong đó bò lai chiếm trên 50% (Bộ NN&PTNT, 2008). Để góp phần thực hiện mục tiêu này, Bộ Nông nghiệp và PTNT đã có một số chương trình nghiên cứu cải tiến giống bò thịt, trong đó đề tài “Nghiên cứu nhân thuần và lai tạo giống bò hướng thịt chất lượng cao ở Việt Nam” đã được Viện Chăn nuôi triển khai từ năm 2006. Đề tài đã thực hiện nội dung phối giống giữa tinh bò đực các giống Red Angus, Drought Master và Limousine với bò cái lai Sind tại Vĩnh Phúc và Đăk Lăk để đánh giá khả năng sinh trưởng, phát triển trong các điều kiện nuôi dưỡng khác nhau, từ đó làm cơ sở cho việc triển khai các dự án nhân giống rộng rãi các giống bò này. | | |  | | | Ngày nay cùng với việc phát triển chăn nuôi các giống gia cầm có năng suất cao như gà chuyên thịt, chuyên trứng, việc nghiên cứu chọn lọc lai tạo các giống quý hiếm đặc sản cũng bắt đầu được quan tâm triển khai và nuôi thử nghiệm. Chăn nuôi giống gà xương đen, thịt đen là một trong những hướng đi như vậy.
Gà H’mông là giống gà nội của Việt Nam thuộc nhóm gà da đen, thịt đen, xương đen nuôi theo phương thức quảng canh ở một số vùng miền núi phía Bắc nước ta. | | |  | | | Trong những năm qua, các giống lợn ngoại cao sản như Landrace (LR), Yorkshire (Y), Duroc (DR), Pietrain (Pi), ... nhập vào nước ta đã góp phần nâng cao năng suất và chất lượng thịt lợn. Song, điều kiện chăn nuôi trong các nông hộ miền Bắc nói chung và miền núi Lào Cai nói riêng chưa đủ để nuôi các giống lợn ngoại dẫn đến không đạt năng suất vật nuôi cao và không mang lại hiệu quả kinh tế lớn cho người chăn nuôi. Vì vậy, khai thác nguồn gen lợn nội giống Móng Cái (MC) vẫn là một hướng đi cần thiết trong ngành chăn nuôi lợn, đặc biệt cho phương thức chăn nuôi nông trại cho các vùng miền Bắc và Trung nước ta. | | |  | |
|
|
| Các bài đã đăng |
 |
|
|
|
|
|
|
|
|
|